Giai thoại về Sương Nguyệt Ánh


Sương Nguyệt ánh tên thật là Nguyễn Xuân Khuê (1864 - 1921), hiệu là Nguyệt Ánh, sau khi goá chồng mới thêm chữ Sương, thành biệt hiệu Sương Nguyệt Ánh. Bà là con gái của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu, quê quán làng An Bình Đông, nay là xã An Đức , Ba Tri, Bến Tre. Thuở nhỏ bà cùng chị là Nguyễn Kim Xuyến được cha dạy chữ Hán và cũng nổi tiếng thông minh, tài sắc trong trường học của cha. Những năm 1906 - 1908 hưởng ứng phong trào Đông Du của Phan Bội Châu, bà đã bán vườn đất giúp họ sinh xuất dương du học.

Khoảng cuối 1917, bà được mời ra Sài Gòn làm chủ bút tờ "Nữ Giới Chung" (Tiếng chuông nữ giới), tờ báo phụ nữ đầu tiên xuất bản tại Sài Gòn (1918), nhưng chưa đầy một năm báo phải đóng cửa. Bà cùng cháu ngoại về Ba Tri sống với người em trai là nhà thơ Nguyễn Đình Chiêm, tác giả "Phấn trang lầu". Đau mắt rồi bị loà, bà vẫn dạy chữ Hán và làm thuốc chữa bệnh. Bà mất tại Ba Tri, phần mộ đặt bên cạnh mộ cha mẹ.

Tạp chí Quê Hương xin giới thiệu một số giai thoại về Sương Nguyệt Ánh:

Những lời từ chối

Cụ Đồ Chiểu tuy mù, nhưng giỏi nghề thuốc lại khẳng khái yêu nước chống Pháp nên khách thường đến nhà rất đông. Nguyễn Xuân Khuê đang thời con gái, nhiều chàng muốn kết duyên. Trong số đó có hai anh chàng tên là Xương và Giảng. Hai người này thường đến nhà cụ Đồ chơi cờ, thỉnh thoảng lại hoạ thơ, cột ghẹo cô con gái cụ Đồ.

Muốn đuổi khéo hai anh chàng, cô bèn ra câu đối:

Đằng tiểu quốc sự Tề hổ, sự Sở hồ?

(Nước Đằng nhỏ, nước tề và nước Sở ép hai bên:

Quay đầu về Sở, e tề giận

Ngoảnh mặt về Tề, sợ Sở ghen!)

Anh chàng Giảng nghĩ mãi chưa ra, chàng Xương gỡ thế bí, xin đối:

Ngã đại trượng, phạt Quách hỷ, phạt Sở hỷ!

(Gậy ta dài, trị Quách ngồi nước Yên, trị cả nước Sở)

Cô Khuê vừa nghe xong, đỏ mặt, lẳng lặng bỏ vào buồng. Lát sau một đứa nhỏ ra , trao cho hai chàng một mảnh giấy viết:

Chiêu Quân nhan sắc nghe ra uổng

Tây Tử phong lưu nghĩ lại buồn!

Câu này ngụ ý rằng: nàng Chiêu Quân lẫn nàng Tây Thi là cô Xuân Khuê đã chê cả hai chàng! Hai chàng đành ra về. Chàng Giảng trách bạn:

- Lại khoe "gậy" dài...

- Thì "đại" đối với "tiểu" chỉnh quá đi chứ!

- Ừ chỉnh! Người ta vác "gậy" đuổi về đó!

Ít lâu sau, cô lấy phó tổng Nguyễn Công Tính, sinh được một bé gái thì chồng chết. Nhiều người "ngấp nghé"...

Thầy Bảy Nguyệt nộp đơn với bài thơ tứ tuyệt:

Ai về nhắn với Nguyệt Anh Cô

Chẳng biết lòng cô tính thế nào!

Không phải vãi chùa sao đóng cửa?

Đây lòng gấm nghé bắc cầu ô.

Chả lẽ không đáp lời? Cô đành phải hoạ:

Chẳng phải tiên cô cũng đạo cô,

Cuộc đời dâu bể biết là mô!

Lọng sườn dầu rách còn kêu lọng,

Ô bịt vàng ròng tiếng vẫn ô.

Sợ Thầy Bảy vẫn theo đuổi, cô hoạ thêm một bài dứt khoát:

Phải thời cô quả, chịu thời cô

Chẳng biết tuồng đời tính thế mô?

Dòm thây bụi trần toan đóng cửa,

Ngọc lành chi để thẹn danh ô.

Câu đối không lời giải

Tờ Nữ Giới Chung ra được một năm, vì nội dung yêu nước của nó nên thực dân bắt đóng cửa (mặt khác vì độc giả mua báo dài hạn trả chậm và nhóm thương gia bảo trợ cắt tài chính), cánh nam giới ở Sài thành lúc ấy rất khoái. Tờ Công Luận, một tờ báo của tầng lớp tư sản đăng một bài thơ như reo lên:

Nữ giới chung! Nữ giới chung

Cớ sao bặt tiếng chẳng nghe rung

Hay là hụt vốn ta giùm nữa

Đặng sắm chày to động đến cùng!

Phạm Đình Chi, một viên chức làm cho Pháp, kiêm tư thương, sau khi thơ trên được đăng, đã đến "thăm" toà soạn Nữ Giới Chung lúc ấy đang... dọn dẹp nghỉ. Hắn ta có thái độ kiêu căng, bà Sương Nguyệt Ánh đã không tiếp hắn. Bà chỉ cho người trao cho hắn một mảnh giấy, ghi một câu đối ra, thách đối lại:

- Đình làng tôi không dám phạm. Thưa ông, ông Phạm Đình Chi?

Tất nhiên, Phạm Đình Chi không đối được.

Lê Xuân



Các bài đã đăng :
  • Một câu đối, hai hoàn cảnh
  • Giai thoại về Lương Thế Vinh (Trạng Lường)