Những giai thoại về Cao Bá Quát


Cá nuốt cá, người trói người

Chuyện kể khi còn bé, Cao Bá Quát ra tắm ở Hồ Tây. Đúng vào lúc vua Minh Mệnh tuần du ở ngoài bắc, nhà vua cũng đến Hồ Tây xem phong cảnh. Đạo ngự đi qua, tàn lọng rợp trời, gươm đao sáng quắc, ai cũng phải tránh xa, riêng cậu Quát cứ tự do vùng vẫy. Lính đến bắt lôi lên bờ, cậu cứ trần truồng đến trước mặt vua, tự khai là học trò, vì trời nực ra tắm mát. Vua nhìn xuống hồ thấy có con cá lớn đang đuổi đàn cá con, liền đọc một câu đối, bảo nếu đúng Quát là học trò thì phải đối được, sẽ tha không đánh đòn; vua đọc:

Nước trong leo lẻo, cá đớp cá.

Cậu Quát ứng khẩu đối ngay:

Trời nắng chang chang, người trói ngườị

Hay là thầy Lý...

Ở làng Cao Bá Quát có viên lý trưởng có tiếng là hay nhũng lạm. Dân làng chê trách nhưng không ai dám chỉ trích công khai. Cao Bá Quát tuy còn nhỏ tuổi, nhưng cũng biết chung mối bất bình với dân chúng. Nhân có việc làng cho đắp đôi con voi thờ dựng trước cửa đình, cậu Quát cùng chúng bạn ra chơi, lấy bút viết luôn vào lưng voi bài thơ:

Khen ai rõ khéo đắp đôi voi

Đủ cả đầu đuôi, đủ cả vòi

Chỉ có cái kia sao chẳng đắp

Hay là thầy Lý bớt đi rồị

Ước đời Nghiêu Thuấn

Một lần Cao Bá Quát đến nghe bình văn ở một trường Đốc. Nghe đọc những câu văn tầm thường, ông cứ lắc đầu và còn bịt mũi tỏ ra khó chịu. Lính bắt vào nộp quan đốc học. Quát xưng là học trò, hỏi học với ai, ông trả lời:

- Tôi học với ông Trình ông Chu.

Trình, Chu là hai vị học giả vào hàng tôn sư trong đạo Nho. Trả lời như vậy là tỏ ra mình học với các bậc thánh hiền, học từ gốc chứ không thèm học ngọn! Quan đốc giận, ra câu đối bắt đối ngay:

- Nghĩ tiểu sinh hà xứ đắc lai, cảm thuyết Trình Chu sự nghiệp?

(Chú bé này ở đâu đến đây, dám nói đến sự nghiệp ông Trình, ông Chu to lớn?)

Cậu Quát đối lại:

- Ngã quân tử kiến cơ nhi tác, dục vi Nghiêu Thuấn quân dân.

(Người quân tử gặp thời làm việc, muốn quân dân đều được như đời Thuấn, đời Nghiêu).

Quan đốc phục tài, nhất là cảm thấy chí hướng lớn lao của người trẻ tuổi. Ông đã không giận mà còn thưởng cho Cao Bá Quát.

Câu đối khóc mướn

Cả mấy thầy nho đi gặp một đám tang, chủ nhà mời dừng chân để xin câu đối. Không hề quen biết, cũng chưa rõ tình hình cụ thể thế nào, không ai nghĩ ra viết câu đối sao cho hợp. Một nho sĩ cùng đi trong đám ấy, xin giấy bút viết ngay:

- Thấy xe thiện cổ xịch đưa ra, không thân thích lẽ đâu khóc mướn.

Tưởng sự bách niên đừng nghĩ lại, động can tràng nên phải thương caỵ

Các nhà khoa bảng ở đám tang hết sức phục đôi câu đối tài tình. Có người đoán ra ngay: - Cứ giọng văn lưu loát và tình cảm phóng khoáng này thì tác giả chắc chắn là Cao Bá Quát. Họ chèo kéo đám nho sĩ để hỏi han, thì quả nhiên đúng như vậy.

Cót két thẩn thơ

Tương truyền khi chưa quen nhau, ông Quát nghe tiếng ông Nguyễn Văn Siêu dạy học, tìm đến thăm dò. Ông Siêu còn nghèo lắm, chỉ ngồi trên ghế chõng tre cũ kỹ, học trò trải chiếu ngồi quanh nền nhà. Cao Bá Quát xin vào học. Ông Siêu ra câu đối, bảo có đối được mới nhận.

Tiên sinh tọa tịch thượng, cót chi két, két chi cót, cót cót két két.

Ông Quát đối ngay:

Tiểu tử nhập đình trung, thẩn chi thơ, thơ chi thẩn, thẩn thẩn thơ thợ

Nguyễn Văn Siêu rất phục, dắt tay mời vào. Từ đó hai người kết bạn vong niên.

Câu thơ thi xã

Cao Bá Quát vào Huế thi, rồi được làm một chức quan nhỏ ở Huế. Các ông hoàng bà chúa cùng với những tao nhân mặc khách ở Kinh đô, thường nhóm họp nhau, đàm luận và xướng họa thơ văn. Họ lập ra một thi xã lấy tên là Tùng Vân. Tùng Vân là tên hiệu của Tùng Thiện Vương Nguyễn Miên Thẩm, người đứng đầu thi xã này. Có người muốn rủ ông Quát vào thi xã, đưa cho ông xem một vài tập thơ văn, nhưng vô tình lại không chọn lựa, đưa phải những bài quá kém. Nghe nói, ông Quát xem rồi bịt mũi đọc câu ca:

Ngán cho cái mũi vô duyên

Câu thơ thi xã, con thuyền Nghệ An.

Nhiều nhà thơ ở Huế bất bình về sự khinh miệt này. Tuy bất bình, họ vẫn phải ngầm đọc lại các tác phẩm của mình, để xem có đến nỗi "hôi" như mùi thuyền chở nước mắm ở Nghệ An vào không?

Riêng có vị chủ trì thi xã, Tùng Thiện Vương là có thái độ khác. Ông cũng thấy trong số hội viên thi xã Tùng Vân nhiều người văn chương... đáng chê trách. Còn Cao Bá Quát, thì thật là một tài năng. Tùng Thiện Vương đã nhún mình, nhiều lần tìm gặp và đón mời ông Cao. Cuối cùng Cao Bá Quát cảm động, trở thành bạn thân của Tùng Vân.

Trên dưới đều chó

Nhờ có tài văn chương, tuy chức phận thấp, Cao Bá Quát thường được nhiều người lưu ý, kể cả nhà vua. Một hôm, có hai viên quan cãi cọ nhau về một việc gì đó, đâm ra ẩu đả. Cao Bá Quát vì có chứng kiến nên vua Tự Đức bắt viết tờ trình cho vua rõ đầu đuôi. Ông Quát khai rằng:

Bất tri ý hà

Lưỡng tương đấu khẩu

Bỉ viết cẩu

Thử diệc viết cẩu

Dĩ chí đấu ẩu

Thần kiến thế nguy thần tẩu

nghĩa là:

Chẳng biết vì sao

Hai bên cãi cọ

Bên này rằng: chó

Bên kia cũng: chó

Trên dưới đều chó

Rồi họ đấu võ

Thần thấy thế nguy thần bỏ (*)

(*) Về giai thoại này, trong nhân dân vẫn nghe truyền tụng như trên. Sách Giai thoại làng nho của Phùng Tất Đắc chép hơi khác và cung cấp xuất xứ có vẻ cụ thể hơn.

Chuyện rằng hai vị quan trong triều là Phan Văn Nhã và Võ Văn Khải đánh nhau vì chuyện văn chương. Ông Khải xem bài ông Nhã chê kém và nói Văn như thế chó nó cũng làm được. Thế là sinh sự.

Vua Tự Đức hỏi, Quát cứ "sự thực tường khai" như sau:

Quát quá Nhã gia

Nhã hô: Quát! Quát!

Quát lại âm

Thủ bất tri

Vĩ bất tri

Chỉ kiến lưỡng tương đấu khẩụ..

(Mấy câu chép tiếp giống như trên, câu kết hơi khác):

Thần kiến thế nguy

Thần khủng thần tẩu.

Mấy câu dị bản trên nghĩa là:

Quát qua nhà Nhã

Nhã gọi Quát! Quát

Quát đến uống

Đoạn đầu không biết

Đoạn đuôi không biết

Chỉ thấy: hai bên cãi cọ...

...

Thần thấy thế nguy

Thần sợ thần chạỵ

Khù khờ khệnh khạng

Vua Tự Đức thường cứ nghĩ ra những trò văn chương độc đáo để khoe tài với các quan. Một lần, ông nói với họ:

- Đêm qua, trẫm nằm mơ thấy hai câu thơ thật đặc biệt:

Viên trung oanh chuyển khề khà ngữ

Dã ngoại đào hoa lấm tấm khaị

Các khanh thấy thế nào?

Các quan đều nức nở cho là lạ, thơ chữ Hán kèm tiếng Nôm, rõ nghĩa mà có hình ảnh tân kỳ, chắc là tiên thánh nào ban cho, hoặc nhà vua nghĩ được câu thần cú. Chỉ có Cao Bá Quát quỳ tâu:

- Tâu bệ hạ, câu thơ ấy là thơ cũ đấy ạ! Nguyên là hai câu 3, 4 ở một bài thơ thần đã được nghe.

Vua ngạc nhiên, thơ mình nghĩ ra kia mà. Anh chàng họ Cao này sao dám nói là thơ cũ? Nhưng vua cũng bình tĩnh bảo:

- Nếu khanh đã nghe cả bài thì đọc thử xem:

Cao Bá Quát đọc:

Bảo mã tây phong huếch hoác lai

Huyênh hoang nhân tự thác đề hồi

Viên trung oanh chuyển khề khà ngữ

Dã ngoại đào hoa lấm tấm khai

Xuân nhật bất văn sương lộp bộp

Thu thiên chỉ kiến vũ bài nhài

Khù khờ thi tứ đa nhân thức

Khệnh khạng tương lai vấn tú tàị

Tạm dịch:

Gió tây ngựa huếch hoác về

Huyênh hoang người cũng tự đi theo vào

Khề khà oanh hót vườn nao

Đồng quê lấm tấm muôn đào nở hoa

Xuân không lộp bộp sương sa

Ngày thu chỉ thấy trời mưa bài nhài

Khù khờ thơ đã cũ rồi

Ông còn khệnh khạng hỏi người hay thở

Đức vua bị một đòn đau quá. Ông biết rõ Cao Bá Quát bịa ra, mà lại ngang nhiên trêu chọc ông: "Khù khờ thơ đã cũ rồi, ông còn khệnh khạng hỏi người hay thơ".

Câu đối đề đèn lồng

Cao Bá Quát có dịp vào Quảng Nam, đến thăm nhà một cụ đồ (sau này là thân sinh ông Nguyễn Hiển Dĩnh). Nhiều người nghe tiếng ông giỏi thơ văn đã đến xin chữ. Một người làm đôi đèn lồng để thờ mẹ, xin ông cho một đôi câu đối Nôm. Ông Quát viết luôn vào đôi đèn lồng hai câu:

- Trước mẹ dạy con, gió chiều nào che chiều ấy, con dạ.

Giờ con thờ mẹ, đèn nhà ai rạng nhà nấy, mẹ ơi!

Trong Nam truyền tụng là câu đối rất hay, dùng toàn tục ngữ mà sát với đôi đèn.

Câu đối đề nhà học

Trước khi khởi nghĩa, Cao Bá Quát được triều đình nhà Nguyễn đưa đi làm giáo thụ ở Quốc Oai, vùng đất thuộc Sơn Tây, xa chốn kinh đô, thành thị. Học trò ít, cảnh sinh hoạt tiêu điều. Ông đã viết đôi câu đối dán ngoài nhà học:

Nhà trống năm ba gian, một thầy, một cô, một chó cái

Học trò dăm bảy đứa, nửa người, nửa ngợm, nửa đười ươi (*)

(*) Câu đối này có người cho là của Ông ích Khiêm.

Vũ Ngọc Khánh



Các bài đã đăng :
  • Giải nghĩa bằng ca dao
  • Câu đối của thí sinh bướng bỉnh
  • Tạ người cho hoa trà
  • Mấy nét về nhân vật Trạng Lợn
  • Đầu đề đặc biệt
  • Gà câu đối cho trò
  • Giai thoại về Nguyễn Du
  • Làm thơ khất nợ
  • Giai thoại về nhà tiên tri Nguyễn Bỉnh Khiêm
  • Giai thoại về Sương Nguyệt Ánh
  • Một câu đối, hai hoàn cảnh
  • Giai thoại về Lương Thế Vinh (Trạng Lường)